22/2/22

Các loại biến chứng hậu COVID



Về tổng quát, Bs. Anh chia biến chứng hậu COVID ra thành 2 loại:

1) Hậu COVID thực sự: Đó là những hậu quả hay rối loạn tìm thấy được khi khám bệnh và làm xét nghiệm. Điển hình như các sẹo xơ ở phổi gây ảnh hưởng đến chức năng hô hấp, các rối loạn nhịp tim, tình trạng viêm được xét nghiệm bằng máu, các ảnh hưởng do nguyên nhân đông máu… 

Nguyên nhân: của hậu COVID thực sự chủ yếu đến từ việc chăm sóc và kiểm soát bệnh không tốt. Điều này khiến tăng độ nặng của bệnh và gây tàn phá cơ thể. Nguyên nhân thứ yếu dựa trên thể trạng nền tảng thể chất của người bệnh (bệnh lý mạn tính, các rối loạn sức khỏe, các vấn đề dinh dưỡng sẵn có…) 

Hậu quả: Những tổn thương này có thể đã lành hoặc vẫn đang tiếp diễn, rất khó hồi phục hoàn toàn và có thể là di chứng trọn đời

Điều trị: Chủ yếu là điều trị nguyên nhân, phục hồi chứng năng, và liệu pháp dinh dưỡng. 

2) Hậu COVID chức năng: Khi đi khám bệnh thì không thấy bất kỳ những rối loạn nào, các kết quả X-quang, siêu âm, điện tim, xét nghiệm máu… đều bình thường. 

Nguyên nhân: của hậu COVID chức năng chủ yếu dựa trên nền tảng thế chất của người bệnh.

Hậu quả: Những tổn thương này có thể vẫn đang tiếp diễn, cần thời gian để hồi phục, và có thể hồi phục hoàn toàn. 

Điều trị: Chủ yếu là điều trị triệu chứng, và liệu pháp dinh dưỡng.

Xem bài viết...
29/5/19

9 lợi ích của chất xơ


Rất nhiều nghiên cứu cho thấy chất xơ có thể giúp tăng cường sức khỏe của chúng ta. Một số lợi ích tốt nhất đó là:

1. Kiểm soát đường huyết

Chất xơ hòa tan có thể giúp làm chậm sự phân hủy carbonhydrate trong cơ thể và làm chậm sự hấp thu đường, từ đó giúp kiểm soát lượng đường trong máu.

2. Cải thiện sức khỏe tim mạch

Có một mối tương quan nghịch được tìm thấy giữa lượng chất xơ tiêu thụ và cơn đau tim. Nghiên cứu cho thấy những người ăn chế độ ăn nhiều chất xơ có nguy cơ mắc bệnh tim thấp hơn 40% so với nhóm người còn lại. (1)

3. Giảm nguy cơ Đột quỵ

Cá nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng cứ 7g chất xơ bạn tiêu thụ hàng ngày sẽ giúp bạn giảm nguy cơ đột quỵ đi 7%. (2)

4. Giảm cân và kiểm soát cân nặng

Bổ sung chất xơ đã được chứng minh giúp tăng cường sự giảm cân ở người béo phì. Có thể là do chất xơ làm tăng cảm giác no. (3)

5. Cải thiện sức khỏe da

Chất xơ, đặc biệt là vỏ hạt mã đề (psyllium husk) có thể giúp di chuyển nấm men và nấm ra khỏi cơ thể bạn, ngăn không cho chúng được bài tiết qua da của bạn - nơi chúng gây ra mụn trứng cá hoặc nổi ban. (4)

6. Giảm nguy cơ viêm túi thừa

Chất xơ (đặc biệt là chất xơ không hòa tan) có thể làm giảm nguy cơ viêm túi thừa - viêm polyp trong ruột của bạn - khoảng 40%. (5)

7. Giảm nguy cơ mắc bệnh trĩ

Chế độ ăn nhiều chất xơ có thể giúp giảm nguy cơ mắc bệnh trĩ.

8. Giảm hội chứng ruột kích thích

Chất xơ có thể giúp giảm triệu chứng trong hội chứng ruột kích thích.

9. Giảm nguy cơ sỏi mật và sỏi thận

Một chế độ ăn giàu chất xơ cũng có thể giúp giảm nguy cơ sỏi mật và sỏi thận.

    Xem bài viết...
    15/9/16

    Ăn ớt cay để đốt calori và đốt mỡ


    Thêm ớt cay vào bữa ăn lành mạnh không là bí quyết gì ghê gớm, nhưng nó có thể giúp bạn đốt cháy một ít calori và  mỡ, theo một nghiên cứu năm 2010.

    Các nhà nghiên cứu từ Đại học California ở Los Angeles (UCLA) đã thử nghiệm một hợp chất có liên quan đến capsaicin trong ớt để xem nó có thể giúp giảm cân nhanh cho người ăn kiêng hay không. Hợp chất đó được gọi là dihydrocapsiate hoặc DCT, nó không cay nóng như ớt đỏ.

    Họ muốn xem liệu hợp chất tương tự trong ớt này, bằng cách làm nóng cơ thể, có thể chuyển hóa calori và đốt mỡ tốt hơn không.

    "DCT giúp tăng lượng calo bị đốt cháy sau bữa ăn thử nghiệm, '' Tiến sĩ bác sĩ David Heber - tác giả nghiên cứu, giám đốc sáng lập của Trung tâm UCLA về dinh dưỡng con người, đã nói như thế. Tuy nhiên, kết quả khá khiêm tốn, khoảng 100 calo một ngày cho một người phụ nữ 50kg và 200 calo cho một người đàn ông 90kg, quá trình đốt mỡ cũng tăng lên một chút, ông nói.

    Phát hiện này đã được trình bày tại cuộc họp Sinh học Thực nghiệm hàng năm vào năm 2010.

    Những nghiên cứu khác sau đó cho thấy ớt có thể thúc đẩy chuyển hóa hay làm giảm sự ngon miệng.

    Nghiên cứu tác dụng giảm cân của ớt


    Mặc dù DCT có cấu trúc liên quan đến capsaicin từ ớt cay, nhưng nó không cay – bác sĩ Amy Lee đại diện cho các nghiên sinh trường đại học California Los Angeles để trình bày phát hiện này, đã nói

    Các nhà nghiên cứu bắt đầu nghiên cứu với 51 người đàn ông và phụ nữ nhưng kết thúc chỉ với 33 người sau khi lọc bớt, bác sĩ Lee nói. Tất cả đều béo phì và tuân theo chế độ ăn thay thế bằng chất lỏng cung cấp 800 calo mỗi ngày. Việc cho dùng calori thấp là lý do chính để sàng lọc. cô ta nói.

    Những người ăn kiêng được chia ngẫu nhiên làm 3 nhóm, nhóm dùng giả dược, nhóm dùng 3g và nhóm dùng 9g DCT ở dạng viên nang.

    Từ lúc bắt đầu nghiên cứu và 4 tuần sau đó, các nhà nghiên cứu đo tốc độ trao đổi chất và năng lượng tiêu hao của người ăn kiêng (hay sự sinh nhiệt) sau bữa ăn thử nghiệm 400 calori dạng lỏng.

    Những người sử dụng viên nang 9g đã có sự tăng năng lượng tiêu hao hay sinh nhiệt và tăng đốt cháy mỡ so với những người sử dụng giả dược, bác sĩ Lee nói.

    Ý kiến thứ hai về tác dụng giảm cân của ớt


    “Cần có những nghiên cứu xa hơn như là những sản phẩm giảm cân tiềm năng”, Tiến sĩ dinh dưỡng Lauri Byerley nói, một giáo sư nghiên cứu tại đại học Trung tâm Khoa học Sức khỏe ở bang Louisiana, New Orleans, người chuyên đánh giá các kết quả nghiên cứu cho WebMD.

    Bà chỉ ra rằng có quá nhiều người trong nghiên cứu bị béo phì, chế độ ăn lỏng cùng với lượng calori rất thấp được kiểm soát bởi các chuyên gia chăm sóc sức khỏe.

    Do đó kết quả có thể khác nhau cho những người ăn kiêng ví dụ đối với những người ăn kiêng bằng cách cắt bớt khẩu phần chất béo.

    Những người có chế độ ăn lỏng thường giảm cân nhanh chóng, một phần vì họ có quá nhiều trọng lượng để mất, do đó đối với những người ăn kiêng muốn giảm cân chậm sẽ không có lợi ích nhiều từ DCT, cô ấy nói.

    “Chúng ta chưa thể kết luận rằng cách tiếp cận này sẽ hữu ích cho những người tìm kiếm cách giảm cân chậm, bởi vì họ có ít trọng lượng để giảm, Byerly nói với WebMD.

    Mặc dù vậy, cô đồng ý với Herber rằng DCT không gây hại, nhưng nó thích hợp với những người thích gia vị, Byerly nói.


    Lời khuyên cho những người ăn kiêng


    Loại DCT được dùng trong nghiên cứu không có mặt trên thị trường, Nhưng những người muốn có tác dụng của DCT có thể thêm ớt cay vào phần ăn của mình, Herber nói.

    Đây là một cách để đốt calori, nó không phải là chiến lược chính mà chỉ là phần hỗ trợ thêm. “Tôi xếp nó cùng nhóm với trà xanh và caffeine”, Heber nói.

    Tuy nhiên, ông không thấy tác dụng phụ của DCT, ông nói, “nó không được hấp thu vào cơ thể. Nó bị thải trừ ra ngoài cơ thể qua đường ruột”.

    Xem bài viết...
    19/12/15

    Chất đạm cho trẻ em

    Vào ngày thứ Sáu 17 - 4 - 2015, một ngày hội thảo khoa học được đồng tổ chức bởi Hiệp hội DOHaD AU - NZ; Hiệp hội Dinh Dưỡng Australia và Viện Dinh Dưỡng Nestlé tại Melbourne. Với chủ đề "Đạm trong Nhi khoa – Ngày Cập nhật thông tin về Dinh dưỡng", hội thảo với sự tham gia của 5 báo cáo viên có nhiều kinh nghiệm về các chủ đề liên quan đến đạm như động học của đạm trong sữa mẹ và các ảnh hưởng dài hạn khi ăn vào lượng đạm dư thừa trong giai đoạn đầu sau sinh. Peter Fryer, người đứng đầu của Viện Dinh dưỡng Nestlé tại Úc đã tham dự và tóm tắt những điểm chính của hội thảo. 

    Sữa mẹ có tác dụng bảo vệ chống lại bệnh béo phì sau này


    Sữa mẹ là thức ăn tốt nhất cho trẻ nhũ nhi vì nhiều lý do. Xét về thành phần đạm trong sữa mẹ thì sữa mẹ chứa nhiều hợp chất có hoạt tính sinh học mà không thể có mặt trong sữa công thức dành cho trẻ nhũ nhi, cũng như cung cấp lượng đạm thích hợp cho từng giai đoạn bú mẹ để đáp ứng nhu cầu của trẻ nhũ nhi. Sữa mẹ đã được chứng minh có tác dụng bảo vệ chống lại sự tiến triển của bệnh béo phì sau này, và đạm được cho là một yếu tố quan trọng trong vấn đề này.

    Ăn vào đạm dư thừa trong giai đoạn nhũ nhi có liên quan đến béo phì sau này

    Ăn vào nhiều đạm hơn so với lượng cần thiết trong giai đoạn nhũ nhi được cho là có thể dẫn đến kết cục sức khỏe kém hơn. “Giả thuyết về đạm trong những năm đầu tiên sau sinh” phác thảo hậu quả về chuyển hóa có thể xảy ra khi ăn vào dư thừa đạm. Tất cả chúng ta đều biết rằng đạm đóng vai trò quan trọng đối với sự tăng trưởng nhưng dư thừa đạm có thể gây ra tăng trưởng quá mức, dẫn đến làm tăng nguy cơ béo phì.

    Hàm lượng đạm trong sữa mẹ giảm theo thời gian

    Sữa mẹ là một loại dịch lỏng biến đổi và nồng độ của các loại đạm khác nhau chứa trong sữa mẹ (ví dụ như đạm whey và đạm casein) thay đổi theo thời gian. Hàm lượng đạm trong sữa mẹ giảm đáng kể theo tuần và tháng cho con bú, điều này phản ánh rằng nhu cầu của trẻ tăng chậm hơn và tốc độ tăng trưởng chậm hơn trong giai đoạn sau của thời kỳ nhũ nhi. Những phát hiện này đã được chứng minh trong cả các nghiên cứu trong nước và quốc tế, và dữ liệu nghiên cứu trên các bà mẹ người Úc cho thấy hàm lượng đạm dịch chuyển về phía bên phải.

    Đạm trong các loại sữa công thức dành cho trẻ nhũ nhi thường tăng theo thời gian

    Thành phần trong sữa mẹ (bao gồm phổ axit amin) là hệ quy chiếu tham khảo quan trọng cho các quy định về nồng độ các chất dinh dưỡng trong sữa công thức khởi đầu, song song với các tài liệu tham khảo quan trọng về kết cục sức khỏe của trẻ bú sữa mẹ. Dựa trên điều này, có thể hy vọng rằng hàm lượng đạm trong sản phẩm sữa công thức khởi đầu cũng sẽ giảm theo thời gian và sữa công thức tiếp theo cũng sẽ chứa ít đạm hơn so với sữa công thức khởi đầu nhưng điều này chưa phải là vấn đề, với sự khác biệt hoàn toàn với hàm lượng đạm trong sữa công thức khởi đầu và tiếp theo. Điều quan trọng cần hiểu đây không phải chỉ đơn giản là vấn đề làm giảm lượng đạm, và Bộ Tiêu chuẩn Thực phẩm của Australia New Zealand (FSANZ) đã điều chỉnh hàm lượng a xit amin thiết yếu trong các sản phẩm sữa công thức dành cho trẻ nhũ nhi để đảm bảo chất lượng đạm sẽ không suy giảm ở bất kỳ thời điểm nào.

    Các quy định quốc tế đang được xem xét

    Sản phẩm sữa công thức dành cho trẻ nhũ nhi là nguồn cung cấp dinh dưỡng duy nhất hoặc chính yếu cho trẻ nhũ nhi nếu trẻ không bú sữa mẹ, và được quy định ở mức tiêu chuẩn cao. Những thay đổi trong quy định về thực phẩm là phức tạp và cần phải được xem xét cẩn thận để tránh những hậu quả không lường trước được, và FSANZ⁶ tiếp tục xem xét các bằng chứng mới khi sẵn có. Điều này đang xảy ra trên quy mô toàn cầu, với thành phần của sữa công thức tiếp theo (bao gồm nồng độ đạm tối thiểu và tối đa cho phép) hiện đang được xem xét bởi Codex Alimentarius.

    Nguồn đạm của trẻ nhũ nhi và trẻ tập đi đến từ đâu?

    Dựa trên dữ liệu từ nghiên cứu InFANT tại Melbourne của Lioret và cộng sự (2012) thì nguồn đạm chính trong chế độ ăn ở những trẻ từ sau sinh đến 12 tháng là sữa mẹ hoặc sữa công thức dành cho trẻ nhũ nhi, tiếp theo là sữa/ sản phẩm từ sữa khác như phó mát và sữa chua. Đến 18 tháng, nguồn đạm chính trong chế độ ăn đến từ sữa/ sản phẩm từ sữa. Sự chuyển đổi này là một điều quan trọng cần lưu ý khi làm giảm lượng đạm ăn vào ở trẻ tập đi. Thịt đỏ cung cấp tổng lượng đạm tương đối ít (dưới 10 %) ở cả hai điểm thời gian trên, và mặc dù điều quan trọng cần nhớ là thịt giàu chất sắt nhưng dưới 70 % trẻ được ăn thịt đỏ.

    Giảm lượng đạm trong sữa công thức dành cho trẻ nhũ nhi tạo nên sự khác biệt

    Giảm lượng đạm trong sữa công thức dành cho trẻ nhũ nhi dẫn đến giảm chỉ số khối cơ thể (BMI) 0.51. Con số này khá cao so với một bài tổng quan Cochrane gần đây gồm 55 nghiên cứu (Waters và cộng sự 2011) cho thấy rằng các can thiệp nhằm phòng chống béo phì ở thời thơ ấu chỉ có mức giảm trung bình BMI 0.15. Điều này khác biệt hơn gấp 3 lần!

    Giảm lượng đạm trong sữa công thức dành cho trẻ nhũ nhi làm giảm nguy cơ béo phì

    Các thử nghiệm lâm sàng gần đây so sánh giữa nhóm ăn vào lượng đạm cao hơn và thấp hơn trong sữa công thức dành cho trẻ nhũ nhi so với nhóm chứng gồm các trẻ nhũ nhi bú sữa mẹ cho thấy nhóm ăn vào lượng đạm thấp hơn tăng trưởng gần tương tự với nhóm bú sữa mẹ hơn, trong khi nhóm ăn vào lượng đạm cao hơn có trọng lượng và chỉ số BMI cao hơn, và có khả năng bị béo phì cao hơn khi theo dõi vào năm 6 tuổi. Như một kết quả của các bằng chứng gần đây về việc ăn vào đạm sớm và sự tiến triển của bệnh béo phì sau này, những Hướng dẫn nuôi ăn đối với trẻ nhũ nhi mới nhất NHMRC (xuất bản năm 2013) – lần đầu tiên – đã nói rằng đối với trẻ uống sữa công thức: "Nên ưu tiên chọn sữa công thức chứa hàm lượng đạm thấp hơn".

    Nguồn: www.nestlenutrition-institute.org

    Xem bài viết...
    25/10/15

    10 triệu bước chân cùng phòng chống bệnh Đái tháo đường


    CLB Dinh Dưỡng kính mời quý Cô, Bác, Anh, Chị đến tham gia chương trình nhân ngày phòng chống Đái Tháo Đường thế giới (14/11): 10 triệu bước chân cùng phòng chống Bệnh Đái tháo đường.

    Thời gian: Từ 6h30 đến 10h30 ngày 14/11
    Địa điểm: Khu vực Quảng trường trước Crescent Mall, đường Nguyễn Văn Linh, Phú Mỹ Hưng, Quận 7, Tp. HCM.
    Nhà tổ chức: Hiệp hội Đái Tháo Đường, Hội Nội Tiết Tp. HCM và Nestlé Việt Nam.
    Hoạt động: Đi bộ đồng hành, đo đường huyết và kiểm tra nguy cơ Đái tháo đường, chuyên gia tư vấn sức khỏe và phòng ngừa bệnh đái tháo đường, hướng dẫn cách ăn uống cân bằng dinh dưỡng, dùng thử sản phẩm, hướng dẫn tập yoga nâng cao sức khỏe... Và đặc biệt có thêm 1000 phần quà hấp dẫn dành cho 1000 khách đến tham dự sớm nhất.
    Đăng ký tham gia: Liên hệ Chuyên gia Dinh dưỡng Trúc Tạ 0938_735_657 để đặt chỗ và/hoặc nhận vé mời miễn phí.



    Xem bài viết...

    Bs. Nguyễn Văn Anh

    Theo dõi qua

             

    Gửi thắc mắc